Nghị định 22/2018/NĐ-CP về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan

Quyền tác giả, quyền liên quan là một tài sản trí tuệ được bảo hộ tại Việt Nam theo Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) và các văn bản hướng dẫn dưới luật và Công ước Bern mà Việt Nam là thành viên. Trước đây, các quy định về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định 100/2006/NĐ-CP (Nghị định 100) và Nghị định 85/2011/NĐ-CP (Nghị định 85). Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thi hành, một số điều khoản của Luật SHTT cần được hướng dẫn cụ thể hơn như: cơ chế hoạt động, quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến các hoạt động của tổ chức đại diện tập thể thể quyền tác giả

 Từ những căn cứ trên và đòi hỏi của thực tiễn phát triển, ngày 23/02/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 22/2018/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 100 và Nghị định 85, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật SHTT năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan (Nghị định 22). Nghị định 22 sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 10/04/2018.

Dưới đây là một số điểm mới của Nghị định 22:

1. Nghị định 22 đã giải thích rõ hơn một số thuật ngữ so với các Nghị định trước đây về Bản sao của tác phẩm; Bản sao của bản ghi âm, ghi hình, đồng tác giả, tác phẩm mỹ thuật ứng dụng. Trong đó:

– Bản sao của tác phẩm là bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào;

– Đồng tác giả phải là người cùng trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm. Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả hoặc đồng tác giả;

 – Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp như: Thiết kế đồ họa, thiết kế thời trang, tạo dáng sản phẩm, thiết kế nội thất, trang trí.

2. Chuyển nhượng quyền với tác phẩm khuyết danh

Theo Nghị định mới, Tổ chức, cá nhân đang quản lý tác phẩm khuyết danh được chuyển nhượng quyền đối với tác phẩm khuyết danh đó cho tổ chức, cá nhân khác và được hưởng thù lao từ việc chuyển nhượng quyền; ngoài ra còn được hưởng quyền của chủ sở hữu đến khi danh tính của tác giả được xác định. Đây là nội dung mới chưa được quy định trong hai Nghị định trước đây.

3. Nghĩa vụ trả tiền khi sử dụng bản ghi âm, ghi hình với mục đích thương mại.

Đây là một trong những nội dung quan trọng tại Nghị định 22. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình với mục đích thương mại phải có nghĩa vụ phải trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất cho Chủ sở hữu (Điều 45.1).

Nghị định này cũng quy định rõ việc sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã được công bố trong hoạt động kinh doanh, thương mại là việc tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình đã được công bố để sử dụng tại nhà hàng, khách sạn, cửa hàng, siêu thị; cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ bưu chính, viễn thông, môi trường kỹ thuật số; trong các hoạt động du lịch, hàng không, giao thông công cộng (Điều 32.3).

Quy định này đã tạo nên hành lang pháp lý an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo và bảo hộ thành quả của lao động sáng tạo, thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan ngày càng hoàn thiện hơn.

4. Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan

Trước đây, nghị định 100 và nghị định 85 có đề cập đến nội dung này nhưng chưa cụ thể, dẫn đến nhiều khó khăn trong thực tiễn thi hành. Nghị định 22 đã sửa đổi và bổ sung rõ hơn các nội dung này. Cụ thể:

– Làm rõ tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan theo đúng phạm vi, chức năng hoạt động và hợp đồng ủy quyền với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan.

– Bổ sung quy định về “Biểu mức tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất” (Điều 43):  Các tổ chức đại diện tập thể xây dựng Biểu mức tiền này.  Bên khai thác, sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng theo quy định tại khoản 1 Điều 26, khoản 1 và khoản 2 Điều 33 của Luật SHTT có nghĩa vụ liên lạc trực tiếp với chủ sở hữu hoặc tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan. Trường hợp không liên lạc trực tiếp được thì bên khai thác, sử dụng có nghĩa vụ thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.

–  Bổ sung quy định về việc “Thu, phân chia tiền tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất” (Điều 44): mức hoặc tỷ lệ phần trăm, phương thức và thời gian phân chia tiền sẽ thực hiện theo quy định tại Điều lệ hoạt động của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan và văn bản ủy quyền của chủ sở hữu.

Trong trường hợp tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều tổ chức đại diện tập thể được ủy quyền đại diện cho một quyền, nhóm quyền cụ thể, các tổ chức có thể thỏa thuận để một tổ chức thay mặt đàm phán cấp phép sử dụng, thu và phân chia tiền theo Điều lệ và văn bản ủy quyền.

Việc thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất từ các tổ chức tương ứng của nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế thực hiện theo quy định về quản lý ngoại hối.

–  Bổ sung quy định về việc “Khai thác, sử dụng bản ghi âm, ghi hình” (Điều 45): Các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có thể thỏa thuận, thống nhất, ủy quyền đàm phán, thu tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất theo quy định của pháp luật và theo nội dung tại Hợp đồng ủy quyền với Chủ sở hữu. Tỷ lệ phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất thu được do các tổ chức này tự thỏa thuận.

5. Hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan

Cục Bản quyền tác giả là Cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan trong các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 55 của Luật sở hữu trí tuệ.

Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ khi nhận được một trong các giấy tờ dưới đây, Cục Bản quyền tác giả ra quyết định hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan:

 – Bản án, Quyết định có hiệu lực của Tòa án hoặc Quyết định của cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quy định tại Điều 200 của Luật sở hữu trí tuệvề việc hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.

 – Văn bản của tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan gửi Cục Bản quyền tác giả đề nghị hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan đã được cấp.

Nghị định 22 có hiệu lực từ ngày 10/4/2018 sẽ góp phần tăng cường năng lực, hoạt động của các tổ chức bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan; tạo môi trường cho các cá nhân, doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, nâng cao đạo đức kinh doanh; bảo hộ quyền tác giả một cách chặt chẽ hơn và phù hợp với thông lệ quốc tế.

© Bản quyền thuộc về Công ty luật Sở hữu trí tuệ Trường Xuân – Ageless

poup_ageless_vi

X